南北二宗
nam bắc nhị tông
Hán Việt: nam bắc nhị tông
Tổng quan
NAM BẮC NHỊ TÔNG Phật giáo ngữ. Hai tông phái lớn của Thiền tông Trung Quốc vào trước nửa thế kỷ thứ VIII. Nam tông lấy Huệ Năng, Thần Hội, Mã Tổ và Thạch Đầu làm đại biểu chủ yếu, bởi Huệ Năng truyền
Nghĩa
other
- Nguồn khác Hai tông phái lớn của Thiền tông Trung Quốc vào trước nửa thế kỷ thứ VIII
- Nguồn khác Nam tông lấy Huệ Năng, Thần Hội, Mã Tổ và Thạch Đầu làm đại biểu chủ yếu, bởi Huệ Năng truyền pháp trường kỳ tại Quảng Đông, cho nên gọi Nam tông
- Nguồn khác Bắc tông lấy Thần Tú và Phổ Tịch làm đại biểu chủ yếu, bởi chi phái này một thời cực thịnh tại phương Bắc, cho nên gọi Bắc tông
- Nguồn khác Nam tông vâng làm theo giáo pháp đốn ngộ, và phê bình chỗ xướng đạo của Bắc tông là giáo pháp tiệm tu
- Nguồn khác Sau nửa thế kỷ thứ VIII, Nam tông phát triển nhanh chóng, những chi phái liên tục xuất hiện, môn hạ đệ tử rất đông, trở thành dòng chánh của Thiền tông, Bắc tông dần dần chìm mất
- Nguồn khác Hiện tại sự tranh chấp giữa hai tông Nam Bắc không còn nữa
- Nguồn khác ĐKBĐH ghi: 時,祖師居曹溪寶林,神秀大師在荊南玉泉寺。於時兩宗盛化,人皆稱南能北秀,故有南北二宗頓漸之分,而學者莫知宗趣。 Đúng lúc Tổ sư ở chùa Bảo Lâm tại Tào Khê, thì Thần Tú đại sư ở chùa Ngọc Tuyền tại Kinh Nam
- Nguồn khác Khi ấy hai tông đều hưng thịnh, người đời gọi là Nam Năng Bắc Tú, nên có sự phân chia hai tông Nam Bắc đốn tiệm mà người học không biết tông chỉ